HỌC TẬP TẤM GƯƠNG LÀM VIỆC TRÁCH NHIỆM, KHOA HỌC, ĐỔI MỚI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Thứ sáu - 22/05/2020 03:05
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ nhưng tấm gương, di sản mà Người để lại vẫn trường tồn với thời gian. Ngày nay, trong khi đất nước đang đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng thì vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu… Trong những ngày tháng 5, nhớ về Người, thực hiện Di chúc của Người thì việc đẩy mạnh học tập, làm theo Người, nhất là học tập, làm theo tấm gương làm việc trách nhiệm, khoa học, đổi mới của Người lại càng đặt ra bức thiết.
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tấm gương làm việc trách nhiệm
Mỗi người phải có ý thức trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức. Bên cạnh đó, mỗi người đều là công dân của một quốc gia, dân tộc; do vậy, phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp, xây dựng, phát triển quê hương, đất nước. Với người cán bộ, đảng viên, yêu cầu, đòi hỏi về tinh thần trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ còn cao hơn nhiều, không chỉ với tư cách là công dân mà phải tiên phong, gương mẫu đi đầu về tinh thần, thái độ, trách nhiệm với công việc, trong rèn luyện và thực hành đạo đức, lối sống, nêu gương, tuân thủ nghiêm Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm…
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực về tinh thần làm việc trách nhiệm, hết lòng, hết sức cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Người định nghĩa về tinh thần trách nhiệm bằng những từ ngữ rất giản dị, dễ hiểu: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”; là “khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v., là không có tinh thần trách nhiệm”. Người còn yêu cầu, nhắc nhở, bất kỳ ai, dù ở địa vị nào, “phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”.
Nhận thức sâu sắc trách nhiệm, bổn phận của mình trước dân tộc, nhân dân và trước Đảng, trong quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi, đầy cam go, thử thách, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người đi khắp năm châu, bốn biển khảo sát, nghiên cứu, lao động, học tập để tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Mục đích của Người là tranh đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và vì hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ có một ham muốn tột bậc là nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Vì ham muốn này mà Người đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, có lúc bị hiểu lầm hoặc phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo.
Ngay sau khi nước nhà độc lập, từ thực tiễn và dự báo được chiều hướng phát triển của tình hình, Người rất chú ý đến việc giáo dục ý thức, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong nhiều bài viết gửi các cấp chính quyền, Người yêu cầu các cơ quan từ Chính phủ cho đến các làng, xã phải là “công bộc” của dân, Chính phủ phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân thì phải hết sức tránh; phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, chú ý giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân; đồng thời, nghiêm khắc phê phán, lên án những căn bệnh, như cậy thế, tư túng, óc bè phái, kiêu ngạo… có ở không ít cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ.
Khát vọng cháy bỏng, ham muốn tột bực của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thôi thúc, trở thành động lực để Người dấn thân, hành động, làm việc một cách tự giác, không vì danh lợi, thành tích hay sự ca ngợi. Với Người, được cống hiến, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân là nguồn vui, niềm hạnh phúc vô bờ. Tinh thần trách nhiệm đó xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc, tâm trong sáng, tình thương yêu con người vô hạn. Trong Di chúc, Người viết: “Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.
Trong công việc, Người luôn gương mẫu, luôn đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng lên trên hết với phương châm xử lý, giải quyết công việc là “chí công vô tư”, “dĩ công vi thượng”, không để cảm xúc, tình cảm cá nhân xen vào. Muốn thực hiện được điều này, theo Người, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân của mọi thói hư tật xấu, làm cho con người không giữ được mình, không vì lợi ích chung để giải quyết công việc, kém tinh thần trách nhiệm, chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân, của gia đình, phe nhóm. Chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch hung ác của đạo đức cách mạng. Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trước hết phải chiến đấu và chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi con người là chủ nghĩa cá nhân.
Tấm gương, tinh thần làm việc trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc thống nhất giữa lời nói và việc làm, không nói nhiều làm ít, nói mà không làm, làm không như nói. Đây là một đặc điểm nổi bật trong phẩm chất của Người. Qua đó, quần chúng nhân dân, cán bộ, đảng viên nhìn thấy được phẩm chất, phong cách của một lãnh tụ hành động, một tấm gương có sức cảm hóa, thuyết phục cao. Người đã làm đúng những gì đã nói, trở thành tấm gương sống mẫu mực, sáng ngời đạo đức, nhân cách, tài năng, kết tinh những giá trị, phẩm chất tốt đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm giá, lương tâm, trí tuệ của con người Việt Nam.
Tấm gương làm việc khoa học, đổi mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tấm gương làm việc khoa học, luôn tìm tòi, đổi mới để đạt hiệu quả và chất lượng cao nhất.
Làm việc gì cũng luôn đi sâu đi sát, nghiên cứu, điều tra, khảo sát kỹ lưỡng
Trước khi đưa ra một quyết định, giải pháp nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn chắc chắn, có độ tin cậy cao. Người không quyết định theo cảm tính, chủ quan, mà nghe nhiều bên, có phân tích, xem xét, đánh giá một cách khách quan. Theo Hồ Chí Minh: Toàn tập,Người từng nói: “So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học”; “gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”. Cách làm khoa học này là cơ sở cho việc lãnh đạo đúng, trúng, sát hợp thực tế, tình hình.
Trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, bên cạnh việc tham vấn bộ máy, đội ngũ trợ lý, giúp việc, Người trực tiếp đi nghiên cứu, khảo sát, tiếp xúc cơ sở, địa phương để tìm hiểu thực tế, nắm bắt tình hình, thu thập thông tin. Người chỉ rõ, muốn lãnh đạo đúng, trước hết phải quyết định mọi vấn đề cho đúng, nên trước tiên phải điều tra, nghiên cứu rõ ràng. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên khi xử lý và giải quyết công việc phải tôn trọng hiện thực khách quan, có tầm nhìn xa rộng, tránh rơi vào những việc sự vụ, thiển cận. Theo Người, khi ra quyết định công tác, xác định cách tổ chức, cách làm việc, phải căn cứ vào tình hình thực tế, xem xét mọi mặt. Người phê phán gay gắt những cán bộ mắc bệnh quan liêu, hình thức, chỉ nghe báo cáo rồi ra quyết định…
Làm việc có chương trình, kế hoạch
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác cụ thể, chi tiết hàng tuần, tháng, quý, năm; từ ngắn hạn đến trung, dài hạn; rất khoa học, thiết thực, vừa sức, sát hợp. Theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Người còn chỉ ra bệnh thường thấy là: “Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực. Đặt ra kế hoạch và chương trình không xét rõ năng lực của những người thi hành kế hoạch và chương trình đó. Thành thử việc gì cũng muốn làm mà việc gì làm cũng không triệt để”. Do vậy, lập kế hoạch cần tránh tình trạng “đánh trống bỏ dùi”.
Cùng với đó, cán bộ, đảng viên thường mắc khuyết điểm là đầu tư nhiều công sức vào việc vạch ra chương trình, kế hoạch, nhưng ít tìm cách để thực hiện cho được kế hoạch, chương trình đề ra; chương trình, kế hoạch này thực hiện chưa xong, chưa biết kết quả đã nghĩ đến chương trình, kế hoạch khác; xây dựng chương trình, kế hoạch làm việc nhưng sắp đặt công việc không khéo, ôm đồm nhiều việc cùng lúc, hoặc làm không đúng, lại thiếu những biện pháp thích hợp, thiếu quyết tâm nên các chương trình, kế hoạch đặt ra đều không thực hiện được. Do vậy, Người nhắc nhở: “Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần, và quyết tâm phải ba phần, có như thế mới có thể hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch”.
Làm việc gắn với kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và của Nhà nước. Kiểm tra là để xem các cấp thực hiện có đúng đường lối; chính sách, để nắm chất lượng, tiến độ công việc, tuân thủ quy trình… Theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Người từng chỉ ra thực trạng: “Hiện nay, nhiều nơi cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to”.
Người còn rất quan tâm đến việc tổng kết, rút kinh nghiệm. Theo Người, khi làm xong việc gì, dù thành công hay thất bại, đều cần tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm, phát hiện những khó khăn, vướng mắc, làm cơ sở cho việc bổ sung, phát triển lý luận, đề ra chủ trương, biện pháp sát hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn. Trong quá trình lãnh đạo, Người thường xuyên kiểm tra, kiểm soát từ trên xuống và từ dưới lên để có cái nhìn đúng đắn, khách quan về hoạt động của cán bộ, đảng viên, cũng như của các cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Làm việc phải cụ thể, kịp thời, thiết thực, có trọng điểm và nắm điển hình
Người yêu cầu cán bộ phải “chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc nghĩ”; phải lãnh đạo toàn diện và cụ thể, cẩn thận mà nhanh nhẹn, kịp thời, làm đến nơi đến chốn. Người phê phán căn bệnh “hữu danh vô thực”: “Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít, suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch… Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”.
Luôn đổi mới, sáng tạo trong công việc
Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung, cố chấp, mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Có lần, khi dự thảo công văn cho Bác, anh em giúp việc thường dựa vào các văn bản cũ đã được Người duyệt để làm theo. Không ngờ, lần đó Người sửa khác đi. Khi được hỏi, Người nói, “lần trước Bác chưa nghĩ ra, lần này Bác thấy phải sửa tiếp cho tốt hơn”. Có thể thấy, khi làm việc, Người luôn đổi mới, sáng tạo, không cứng nhắc, không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.
Học tập tấm gương làm việc trách nhiệm, khoa học, đổi mới của Bác
Một là, cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm với công việc; học và làm theo Bác từ những lời nói, việc làm, thái độ, cách ứng xử trong xử lý công việc hằng ngày; tự ý thức về trách nhiệm trong công việc chung, nỗ lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ; và thấm nhuần lời Bác dạy: Cán bộ, đảng viên “là người đày tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”; “phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý”; “làm công bộc cho dân là một việc làm cao thượng”.
Học tập ý thức, tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của Bác cần xuất phát từ tinh thần tự giác, sự thôi thúc của con tim, danh dự và lương tâm. Làm việc với niềm hăng say, phấn khởi, mong muốn đóng góp vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị, tổ chức, của xã hội, đất nước; không vì danh lợi, thành tích. Trở thành một cán bộ, công chức, một đảng viên là niềm vinh dự, tự hào, cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ to lớn. Do đó, mỗi người cần cố gắng, phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó.
Học tập tinh thần trách nhiệm của Bác còn là việc phảiluôn đau đáu, trăn trở với những tâm tư, suy nghĩ, mong mỏi của người dân và xã hội; nói đi đôi với làm; biết thấu cảm, biết đau trước khó khăn, mất mát của người dân; biết vui mừng, hạnh phúc cùng nhân dân. Thấu hiểu và cảm thông với nhân dân sẽ giúp chúng ta luôn tìm tòi, suy nghĩ để giải quyết công việc vừa ích nước, vừa lợi dân.
Hai là, trong xử lý, giải quyết công việc, dù ở cương vị, hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cần khắc ghi nguyên tắc lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng là tối thượng, bất khả xâm phạm, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; lợi ích của cá nhân, của bộ phận, giai cấp phải phục tùng và không được làm tổn hại đến lợi ích dân tộc. Đồng thời, linh hoạt, mềm dẻo, “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong thực hiện nguyên tắc này. Do đó, cần chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, tư tưởng cục bộ, óc bè phái, kéo bè kéo cánh. Đó là nguyên nhân của mọi thói hư tật xấu, của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống  nên phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân” - kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta.
Ba là, học tập và làm theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ. Để tránh tụt hậu, đáp ứng được yêu cầu của công việc, có đủ năng lực làm việc được trong môi trường quốc tế, mỗi người cần có tinh thần cầu thị, không ngừng cố gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân, ngày càng tiến bộ. Đồng thời phải coi việc học tập, rèn luyện là nhiệm vụ tự thân; là nghĩa vụ, niềm say mê; là công việc suốt đời, học ở trường lớp, đồng nghiệp, học từ sách vở và cả tự học...
Biên soạn theo Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

BÃI TƯ CHÍNH HOÀN TOÀN THUỘC QUYỀN CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam. Đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Theo Điều 56 của UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh...

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nội dung nào của Hội?

banner hoc va lam theo Bac
 


 
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây